Cảm nghĩ về những câu hát than thân lớp 7 hay nhất 3 bài văn

Cuộc đời vốn chẳng khi nào đứng yên. Trong sự biến đổi đầy phức tạp ấy, mọi những công trình kiến trúc, những tòa lâu đài,…dù nguy nga, kiên cố đến đâu cũng đều có thể sụp đổ. Nhưng những giá trị tinh thần thì không thế. Bởi vậy, những câu ca dao dù đã ra đời từ cách đây rất lâu mà cho đến hôm nay và cả mãi sau này, lớp lớp thế hệ vẫn nhắc lại. Điều gì làm nên sức sống trường tồn ấy? Những bài làm văn mẫu dưới đây sẽ giúp các bạn cảm nghĩ về những câu hát than thân. Khi cảm nghĩ, các bạn có thể bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ của mình để bài viết thêm sinh động, hấp dẫn. Các bạn có thể tham khảo những bài làm văn mẫu dưới đây để từ đó có thể định hình cách viết cho riêng mình. Chúc các bạn thành công!

BÀI LÀM VĂN MẪU SỐ 1 CẢM NGHĨ VỀ NHỮNG CÂU HÁT THAN THÂN

Ca dao dân ca luôn là những khúc hát quen thuộc của những người dân lao động. Khi văn học viết còn chưa ra đời, đó là phương tiện để người nông dân gửi gắm nỗi niềm của mình. Ca dao dân ca mang rất nhiều nội dung ý nghĩa: ca dao châm biếm, ca dao về tình yêu gia đình, quê hương, đất nước, … Trong đó phổ biến nhất có lẽ là ca dao than thân.

Đất nước ta thời phong kiến, người nông dân- những con người ở tầng lớp dưới của xã hội, luôn phải chịu những áp bức bọc lột của những kẻ cường quyền. Đặc biệt trong xã hội ấy, những người phụ nữ luôn là những người không có tiếng nói nhất. Họ phải chịu sự quản giáo của những hủ tục phong kiến, chịu những nỗi bất hạnh khôn cùng. Họ tài hoa nhưng họ không được làm chủ cuộc sống của mình, tất cả đều phụ thuộc vào nam giới. Từ khi sinh ra, họ đã được in sâu tam tòng (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử), tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh), sống cuộc sống gò bó, mất tự do. Cuộc đời họ như một canh bạc lớn, nếu may mắn tì có thể gả cho người tốt với mình, còn nếu không thì… Không chỉ vậy, nạn tảo hôn, cuộc sống mẹ chồng nàng dâu,.. đều khiến họ chẳng thể hưởng hạnh phúc. Khổ đau, bất hạnh, họ gửi vào những câu ca dao than thân để giãi bày tâm sự của mình:

  • “Thân em như giếng giữa đàng
  • Người khôn rửa mặt, kẻ phàm rửa chân”
  • “Thân em như tấm lụa đào
  • Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”.
  • “Thân em như trái bần trôi
  • Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu.”

Hầu hết các câu ca dao than thân của người phụ nữ thường bắt đầu bằng mô típ quen thuộc “thân em”, “em là” như một lời tâm sự mỏng manh về phận đời mình. Đó dường như chỉ là khổ đau, bất hạnh, bảy nổi ba chìm, bị vùi dập bởi phong kiến, không thể có được tình yêu tự do, hôn nhân tự do hay cuộc đời tự do. Họ nhận thấy cuộc đời mình chỉ như là “tấm lụa đào”, “hạt mưa sa”, “giếng giữa đàng”,… Cho dù có đẹp, có tự nhận ra giá trị của mình thì sao, họ vẫn đâu thể có được hạnh phúc. Cuộc đời trôi nổi, chẳng thể biết đâu là bến đậu cuộc đời hay chỉ là những “giếng giữa đàng” phương tiện công cộng mặc người chà đạp.

Bên cạnh đó, cũng có những câu ca dao không theo những mô típ quen, thế nhưng hầu như vẫn không thể thiếu những hình ảnh so sánh, mang tính ước lễ tượng trưng. Đây chính là nét đặc trưng nổi bật trong các câu ca dao than thân.

  • Nước non lận đận một mình
  • Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay.
  • Ai làm cho bể kia đầy,
  • Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?
  • Hay:
  • Bướm vàng đậu đọt mù u
  • Lấy chồng càng sớm lời ru càng buồn.

Những nỗi khổ của người phụ nữ được diễn tả qua các cách khác nhau, nhưng hầu hết đều đem lại cho người nghe cảm giác buồn thương man mác, có khi nó sẽ bật lên thành tiếng cười nhưng cũng chỉ là tiếng cười tự trào. Ca dao than thân là phương tiện để người phụ nữ bày tỏ tấm lòng mình, đồng thời cũng là cách để những người nông dân giãi bày nỗi xót xa về những cực khổ khó khăn về kế mưu sinh. Vất vả trên đồng ruộng là thế, nhưng họ vẫn không đủ nuôi gia đình bởi mất mùa, thời tiết gay gắt, sưu thuế, dịch bệnh,… Họ vẫn kiên trì tìm kế sinh nhai khác nhưng cũng cực khổ trăm đường. Thế nhưng sau tất cả họ vẫn giữ một ý chí kiên cường, một tinh thần lạc quan, tin tưởng vào tương lai phía trước:

  • Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn, tháng khốn, tháng nạn
  • Đi vay, đi tạm
  • Được một quan tiền
  • Ra chợ Kẻ Diên
  • Mua con gà mái
  • Về nuôi hắn đẻ ra mười trứng
  • Một cái trứng ung
  • Hai cái trứng ung
  • Ba cái trứng ung
  • Bốn cái trứng ung
  • Năm cái trứng ung
  • Sáu cái trứng ung
  • Bảy cái trứng ung
  • Còn ba cái trứng nở ra ba con:
  • Con – diều tha
  • Con – quạ bắt
  • Con – cắt lôi.
  • Chớ lo phận khó ai ơi
  • Còn da – lông mọc, còn chồi – nẩy cây
Xem thêm:  Vai trò của thực vật đối với môi trường, động vật, con người

Ca dao dân ca thật sự là kho tàng văn học quý báu của dân tộc ta. Tuy giản dị, đời thường nhưng nó lại mang một vẻ đẹp gần gũi, không mĩ miều nhưng vẫn hay, dễ thuộc, dễ nhớ. Đây là tài sản vô giá, là nền tảng cho văn học viết dần hình thành và phát triển.

cau hat than than 7 - Cảm nghĩ về những câu hát than thân lớp 7 hay nhất 3 bài văn

BÀI LÀM VĂN MẪU SỐ 2 CẢM NGHĨ VỀ NHỮNG CÂU HÁT THAN THÂN LỚP 7 HAY NHẤT

Ca dao từ xưa đến nay luôn là nơi để nhân dân ta gửi gắm nỗi niềm. Đó là nỗi niềm về tình yêu quê hương đất nước, về chí làm trai chưa thành,… Nổi bật lên trong các chủ đề đó, là chùm câu hát than thân của người nông dân và người phụ nữ- những con người thấp cổ bé họng trong xã hội xưa, tiêu biểu nhất có lẽ là ba bài ca dao sau:

1. Nước non lận dận một mình,

Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay.

Ai làm chi bể kia đầy,

Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?

2. Thương thay thân phận con tằm,

Kiếm ăn được mấy lại nằm nhả tơ.

Thương thay lũ kiến li ti,

Kiếm ăn được mấy phải đi tha mồi

Thương thay hạc lánh đường mây,

Chim nay mỏi cánh biết ngày nào thôi.

Thương thay con cuốc giữa trời,

Dầu kêu ra máu có người nào nghe.

3. Thân em như trái bần trôi,

Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu.

Ba bài ca dao than thân đều gợi về những đối tượng nhỏ bé trong xã hội xưa là người nông dân và người phụ nữ. Họ đều là những con người khốn khó, chịu nhiều bất công, những mỗi người họ đều có một hoàn cảnh riêng, một nỗi khổ riêng được thể hiện đặc sắc qua từng bài ca dao.

Bài ca dao thứ nhất là tiếng lòng người nông dân. Mở đầu bài ca dao, tác giả dân gian đã khéo sử dụng nghệ thuật đảo ngữ “Một mình lận dận nước non” đảo thành “Nước non lận dận một mình”, kết hợp với từ láy “lận đận” chỉ sự vất vả, nguy hiểm, không em xuôi vì gặp nhiều trắc trở đã tạo ra một cách mở đầu trực tiếp, đồng thời cũng nhắn mạnh số kiếp vất vả của người nông dân. Câu thơ thứ hai hiện lên hình ảnh thân cò. Đây là một hình ảnh khá quen thuộc trong văn học Việt Nam. Với hình ảnh gầy gò, ốm yếu của con cò, kết hợp cùng thành ngữ “lên thác xuống ghềnh” như khắc sâu thêm vào nỗi gian truân, vất vả mà người nông dân đã trải qua. Nỗi gian truân, vất vả ấy người nông dân đã phải trải qua rất lâu rồi “bấy nay” nhưng họ vẫn không tìm được nguyên nhân “Ai làm cho bể kia đầy/ Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?” Những hình ảnh hình tượng hóa “bể kia đầy, ao kia cạn, gầy cò con” chính là ẩn dụ cho những vât vả mà người nông dân phải chịu. Nỗi vất vả ấy nhiều, đền dồn dập, xếp chồng lên “thân cò” ốn yếu. Câu hỏi cuối bài vang lên là một câu hỏi tu từ, như là một tiếng trách than số phận khổ đau, cũng là lời bi ai tố cáo nguồn cơ gây ra sự đói khổ, mà ở đây, chính là xã hội phong kiến.

Xem thêm:  Sự thành lập nước Âu Lạc và tổ chức nhà nước buổi sơ khai

Cùng một nhân vật với bài ca dao thứ nhất, nhưng bài ca dao thứ hai lại có cách diễn đạt hoàn toàn trái ngược. Tác giả dân gian sử dụng hàng loạt những hình ảnh quen thuộc với làng quê Việt Nam như “con tằm, lũ kiến. hạc, con cuốc”. Đây đều là những con vật nhỏ bé thấp cổ, bé họng, lại chịu nhiều ngang trái, chúng đều là hình ảnh ẩn dụ cho người nông dân. Hình ảnh “con tằm kiếm ăn được mấy lại nằm nhả tơ” nhắc về việc bị bòn rút thành quả mặc dù lao động cực nhọc, “lũ kiến” lại gợi đến sự mất vả trong việc mưu sinh nhưng vẫn mãi không dủ ăn, “chim hạc” là sự âu sầu, tránh né, không dám đối mặt với bất công, trong khi đó, “con cuốc” lại là tiếng kêu tha thiết thấu trời xanh nhưng lại không có ai nghe, không có ai đáp trả. Cụm từ “thương thay” lặp đi lặp lại bốn lần như một lời ai oán thay cho những kiếp lầm than, cũng là lời than thân đầy bi thương của người nông dân có kiếp sống không khác gì những con vật đó.

Câu ca dao thứ ba lại nhắc đến một đối tượng khác hoàn toàn với hai câu trên, là người phụ nữ. Cụm từ “thân em” là một cụm từ quen thuộc trong ca dao xưa, nó thường dùng để ám chỉ thân phận người phụ nữ. Ở đây thân em được so sánh với “trái bần”. “Trái bần” là trái của cây bần- một loài cây to mọc ở vùng nước lợ. Khi trái bần rụng xuống, nó trôi dạt theo dòng nước, chịu sự dồn tấp của sóng nước, trôi nổi bập bềnh không biết tấp vào đâu. Hình ảnh trái bần chính là hình ảnh biểu tượng thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa, họ không có quyền làm chủ cuộc sống của chính bản thân mình, chịu sự chi phối của “sóng” chính là những phép tắc trong xã hội xưa, khiến cuộc đời của họ trôi nổi không bến bờ.

Cả ba câu ca dao xưa tuy nói về đổi tượng khác nhau những chúng đều gặp nhau ở những điểm nhất định. Cả ba câu ca dao đều sử dụng thành công thể thơ lục bát- thể thơ của dân tộc, kết hợp với các hình ảnh gần gũi với cuộc sống con người và các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ,… và các từ láy gợi tả, gợi cảm. Bằng cách đặc sắc nghệ thuật đó, cả ba câu thơ đều diễn tả sâu sắc nỗi vất vả, khó khăn, thân phận buồn tủi của những con người thấp cổ bé họng trong xã hội xưa, ở đây là người phụ nữ và người nông dân. Qua đó, tác giả dân gian đã tố cáo xã hội phong kiến xưa hà khắc, bất công, đem đến đau khổ cho con người.

Cả ba câu ca dao là những câu ca dao đặc sắc nhất trong chùm ca dao than thân, nó thể hiện sâu sắc tâm tư tình cảm của ông cha ta ngày xưa, trở thành một điểm sáng trong ca dao nói riêng và văn học Việt Nam nói chung.

BÀI LÀM VĂN MẪU SỐ 3 CẢM NGHĨ VỀ NHỮNG CÂU HÁT THAN THÂN

Ca dao than thân chiếm số lượng lớn trong các bài ca dao Việt Nam vì nó là tiếng nói của người dân thấp cỏ, bé họng chịu đựng ngàn đăng cay của cuộc sống. Họ không biết trút bầ tâm sự với ai nên đã dành hết tiếng long của mình gửi vào những câu da dao. Những khúc hát dân ca và tiếng than cho ta thấy số phận bất hạnh và những cảnh ngộ khổ cực, đắng cay. Những câu ca dao sau đây là ví dụ điển hình cho những câu hát than thân:

Xem thêm:  Tả bác bảo vệ trường em lớp 5 hay nhất - 3 bài văn miêu tả bác bảo vệ ngắn gọn

Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

“Thưng thay thân phận con tằm

Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ

Thương thay lũ kiến li ti

Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi

Thương thay hạc lánh đường mây

Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi

Thương thay con cuốc giữa trời

Dầu kêu ra máu có người nào nghe”

Đọc những câu ca dao lên ta  cảm nhận được đó là những lời tự than thân cất lên trực tiếp từ tâm hồn tập thể của người dân lao động. Đó có thể là lời tự than của người phụ nữ cũng có thể là của người bình dân về trăm nghìn nỗi đắng cay trong cuộc đời như cuộc sống nghèo khổ, cơ cực, số phận bấp bễnh phụ thuộc, lấy chồng, làm dâu,…. Đấy là những nỗi niềm rất thiết thực đối với họ vì vậy người đọc dễ dàng cảm nhận và thấy hiểu những đắng cay, tủi khổ của những con người đơn sơ, chất phác. Họ thường nhẫn nhụng chịu đựng, gói ghém hết nỗi lòng vào những lời ca dao, để tìm kiếm sự đồng cảm, sẽ chia hay tìm kiếm những con người có cùng sự bất hạnh để cùng đứng lên phản kháng mãnh liệt.

Ca dao than thân thường được mở đầu bằng những mô típ quen thuộc: “Thân em…”, “em như…”, “Thương thay…” để nói về nỗi lòng của người phụ nữ trong thời phong kiến mang nhiều tâm trạng sầu bi, mượn lời ca dao để giãi bày, kìm kiếm sự đồng cảm. Đồng thời cũng cho thấy sự chân thành, khiêm tốn, khiêm nhường của người phụ nữ. Cũng có nhiều ca dao thường lấy các đồ vật rất bình thường trong cuộc sống hàng ngày để đem vào ca dao như: con tằm, con chim, con kiến,… thể hiện tâm hồn nhỏ bé, khổ cực, xót xa của người lao động. Họ tự ti cho thân phận của mình làm người đọc càng thêm thương cảm hơn. Mặt khác, trong ca dao than thân còn xuất hiện nhiều hình ảnh tuy nhỏ bé nhưng lại mang giá trị lớn lao như: “tấm lụa đào”, “buồng cau”,… để thấy rằng người dân lao động đã dần dần tìm ra giá trị của bản thân. Ẩn sau những lời than thân ấy chính là mong ước được xã hội công nhận, mong ước được hưởng cuộc sống hạnh phúc của người phụ nữ. Đây đều là những mong ước chính đáng, cao quý và tốt đẹp của người phụ nữ.

Ngoài việc sử dụng hình ảnh, giọng điệu than thở, xót xa cùng những câu hỏi tu từ làm cho câu ca dao mang âm điệu buồn, khắc khoải và da diết.

Qua những câu ca dao, chúng ta thấm đẫm tinh thần nhân văn, nhân đạo của văn học bởi đã giúp người lao động nói ra tiếng lòng của bản thân, giãi bày tâm sự. Để từ đó khơi dậy lên lòng thương người của người đọc. Đồng thời thể hiện tinh thần, tâm tư của ông cha ta từ xưa đến nay, đó là: đời sống vật chất dù có đơn sơ, đạm bạc nhưng tinh thần thì luôn phong phú, không hề thiếu thốn về mặt tình cảm. Từ đó, mỗi người dân lao động là một nghệ sĩ đích thực.

Ngày nay, cuộc sống buồn đau, cơ cực đã lùi vào quá khứ. Tuy vậy, mỗi khi đọc những bài ca dao trên, chúng ta lại càng hiểu, càng thương hơn ông bà, cha mẹ đã phải chịu kiếp đóinghèo trong rơm rạ của một dĩ vãng đen tối đã lùi xa để đem lại được sống tốt đẹp ngày hôm nay. Em càng biết ơn và yêu quê hương đất nước này.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *